CSS Menu Maker

Thứ sáu, ngày 10 tháng 9 năm 2010   

TIN CÔNG ĐOÀN
Chủ nhật, 24/06/2007, 11:01
TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU, PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH

Nguyễn Xuân Nga - Phó Trưởng Ban CSKT-XH TLĐ

Phương pháp luận xác định lương tối thiểu:

Để phân biệt nhu cầu tối thiểu, mức sống tối thiểu và tiền lương tối thiểu cần làm rõ khái niệm dưới đây:

-  Nhu cầu tối thiểu: được hiểu như là một sự đòi hỏi của người lao động về điều kiện sinh hoạt tối thiểu về vật chất và tinh thần để tồn tại và làm việc, được phân chia thành hai hệ thống là nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội học. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội thì nhu cầu của con người ngày càng tăng lên.

- Mức sống tối thiểu: là một mức độ thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của người lao động trong một thời kỳ nào đó được biểu hiện dưới hai dạng hiện vật và giá trị. Mức sống tối thiểu bao gồm cơ cấu, chủng loại các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động giản đơn. Về mặt giá trị, được biểu hiện giá trị của các tư liệu sinh hoạt và công việc dịch vụ, nó liên quan chặt chẽ với lương tối thiểu. Mức sống tối thiểu được đảm bảo thông qua tiền lương tối thiểu và các phúc lợi công cộng.

- Tiền lương tối thiểu: là tiền lương nhất định trả cho người lao động làm các công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, đảm bảo nhu cầu đủ sống cho người lao động.

Với quan điểm tiền lương là giá cả sức lao động thì tiền lương tối thiểu là vấn đề then chốt nhất, là nền thấp nhất để trả công cho lao động xã hội, là cơ sở xây dựng hệ thống thang, bảng lương, quan hệ tiền lương, tính các mức lương cho các loại lao động khác nhau ở các ngành, nghề, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trên thị trường lao động; tạo ra lưới an toàn xã hội cho lao động trong cơ chế thị trường. Đồng thời thiết lập mối quan hệ ràng buộc kinh tế hai bên giữa người sử dụng lao động và người lao động trong thoả thuận ký kết hợp đồng lao động. Do vậy, tiền lương tối thiểu phải trên cơ sở tính đúng, đủ và tiền tệ hoá các nhu cầu tối thiểu.

Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu:

Về nguyên tắc có thể xây dựng tiền lương tối thiểu cho vùng mức sống chuẩn (vùng quy ước, vùng giả định, vùng trung bình, vùng bình quân) hoặc vùng có mức sống thấp nhất. Vùng có mức sống thấp nhất là vùng có cơ cấu chi dùng cơ bản của người lao động đơn giản nhất; thị trường lao động kém phát triển, tiền công trả cho lao động tự do và khả năng chi trả của các đơn vị kinh tế thấp; mức sống, thu nhập bình quân củ hộ gia đình thấp so với bình quân chung của cả nước. Như vậy, mức tiền lương tối thiểu chung được xây dựng thông thường theo các phương pháp sau:

1- Xác định tiền lương tối thiểu trên cơ sở nhu cầu tiêu dùng tối thiểu cho bản thân người lao động và có phần nuôi con:

2- Xác định tiền lương tối thiểu trên cơ sở tiền công trung bình trả cho lao động trên thị trường lao động.

3- Xác định mức tiền lương tối thiểu trên cơ sở khả năng chi trả của doanh nghiệp.

4- Xác định mức tiền lương tối thiểu từ khả năng chi trả của nền kinh tế (GDP) và quỹ tiêu dùng dân cư.

5- Xác định mức tiền lương tối thiểu theo tốc độ trượt giá so với lúc thiết kế tiền lương lần trước.

Ngoài các phương pháp trên đây việc xác định tiền lương tối thiểu phải tính đến quan hệ công - nông tức là so sánh tiền lương với mức thu nhập của người nông dân hiện nay để không có sự cách biệt lớn về mức sống, tạo nên sự mâu thuẫn trong xã hội vì nước ta có đến 72% là nông dân. Người nông dân lại đan xen sinh hoạt và chung sống với những người hưởng lương trong từng gia đình, từng thôn xóm.

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay có sự cạnh tranh rất lớn về sản xuất, kinh doanh, sử dụng lao động. Do vậy, lương tối thiểu ở Việt Nam cần có sự tính toán so sánh với mức tiền lương tối thiểu ở các nước trong khu vực như: Philippin, Inđônêxia, Malaysia...

Việc quy định và điều chỉnh tiền lương tối thiểu từ năm 1993 đến nay:

- Từ năm 1993 trở lại đây, Nhà nước quy định mức lương tối thiểu và được điều chỉnh từng năm theo mức độ trượt giá để bù đắp tiền lương thực tế và cải thiện đời sống theo mức độ tăng trưởng GDP. Cụ thể là:

+) Năm 1993 :          120.000đ/tháng

+) Năm 1997:          144.000đ/tháng

+) Năm 1999:          180.000đ/tháng

+) Năm 2001:          210.000đ/tháng

+) Năm 2003:          290.000đ/tháng

+) Từ 01/10/2005 đến nay: 350.000đ/tháng

Trên đây là tiền lương tối thiểu “chung”, là cơ sở để tính các mức lương và phụ cấp lương cho các loại lao động theo hệ thống thang lương, bảng lương, là căn cứ để tính đóng và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, đóng bảo hiểm y tế và thực hiện các chế độ lao động theo quy định của pháp luật.

Theo quy định của Bộ luật Lao động, việc trả lương cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung, khuyến khích các đơn vị, các doanh nghiệp trả lương cao hơn cho người lao động, như sau:

- Đối với đơn vị sự nghiệp có thu: thủ trưởng cơ quan, đơn vị được quyền quyết định điều chỉnh hệ số tăng thêm tiền lương so với tiền lương tối thiểu chung. Nhà nước cho phép điều chỉnh tiền lương tối thiểu không quá 3,5 lần so với lương tối thiểu chung (nếu đơn vị tự trang trải kinh phí); không quá 3 lần (nếu đơn vị tự trang trải một phần kinh phí) tuỳ theo mức độ hoàn thành kế hoạch tài chính, làm căn cứ tính tổng quỹ lương trả cho người lao động.

- Đối với công ty Nhà nước: được áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm không quá 2 lần so với mức lương tối thiểu chung làm cơ sở tính đơn giá tiền lương với điều kiện: nộp ngân sách theo quy định, lợi nhuận kế hoạch không thấp hơn lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề, tốc độ tăng tiền lương bình quân phải thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động.

- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Năm 1999, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xa hội có Quyết định số 708/1999/QĐ ngày 15/6/1999 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động Việt Nam làm công việc giản đơn nhất (chưa qua đào tạo) với điều kiện lao động, môi trường lao động bình thường trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 4 mức khác nhau theo 4 địa bàn thành phố, quận, huyện và doanh nghiệp khó khăn, hạ tầng cơ sở thấp kém như sau:

+) Khu vực 1: không thấp hơn 626.000đ/tháng

+) Khu vực 2: không thấp hơn 556.000đ/tháng

+) Khu vực 3: không thấp hơn 487.000đ/tháng

+) Khu vực 4: từ 417.000đ/tháng đến 486.000đ/tháng

Theo Quyết định này thì đối với lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà mức lương tối thiểu và các mức lương khác ghi trong hợp đồng bằng đô la Mỹ (USD) thì nay chuyển đổi mức lương bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá 13.910VNĐ/1USD.

Đầu năm nay, Chính phủ có Nghị định số 03/2006/NĐ-CP ngày 06/01/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/02/2006 quy định:

Mức lương tối thiểu để trả công đối với lao động là người Việt Nam làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) như sau:

- Mức 870.000đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh;

Mức 790.000đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các quận thuộc thành phố Hải Phòng; thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh; thành phố Biên Hoà thuộc tỉnh Đồng Nai; thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương;

- Mức 710.000đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên các địa bàn còn lại.

Mức lương tối thiểu quy định tại Nghị định này được dùng làm căn cứ tính các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương; tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động, thực hiện các chế độ khác do doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền đã được pháp luật lao động quy định.

Mức tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu này.

Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu quy định trên.

Mức lương tối thiểu này được Chính phủ điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động theo từng thời kỳ.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động và các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu./.  
P.CTCT&QLSV
 
  MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG TỔ CHỨC PHONG TRÀO THI ĐUA - (13/06)
  CẦN TIẾP TỤC ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN GIÁO DỤC TRONG CNLĐ - (13/06)
  GIẢI CẦU LÔNG, CỜ TƯỚNG CÔNG ĐOÀN NĂM 2007 KỶ NIỆM 117 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XII (20/5/2007) - (01/06)
  Cần đổi mới nội dung, phương pháp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ CĐCS - (29/05)
  HỎI ĐÁP VỀ CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH: HÌNH THỨC VÀ CHẾ ĐỘ TRẢ LƯƠNG, TRẢ THƯỞNG - (24/05)
  MỘT VÀI TRAO ĐỔI VỀ MỤC TIÊU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG PHONG TRÀO THI ĐUA - (24/05)
  LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ THỦ LĨNH CÔNG ĐOÀN TẠI CƠ SỞ? - (24/05)
  NỖI LO SỨC KHỎE LAO ĐỘNG NỮ - (19/05)
  MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM NGẮN HẠN ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ - (19/05)
  BÀN VỀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP TRONG CNLĐ - (11/05)
  “Đêm hội người lao động” - tôn vinh gương lao động tiêu biểu thời kỳ đổi mới - (11/05)
  MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM KHI CHUẨN BỊ BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN CÁC CẤP - (11/05)
  MẤY SUY NGHĨ VỀ PHÁT TRIỂN ĐOÀN VIÊN VÀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VỮNG MẠNH - (11/05)
  DANH SÁCH 15 CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN ỨNG CỬ QUỐC HỘI KHÓA XII - (10/05)
  CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC VIỆT NAM VẬN ĐỘNG CB,GV,NV TRONG NGÀNH “THỰC HIỆN MÙA THI NGHIÊM TÚC” - (10/05)
 
THÔNG BÁO