|
Rất nhiều những vấn đề được đặt ra với GD các cấp trong thời kỳ đổi mới, trong đó việc triển khai chương trình - SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng GD, giải quyết tình trạng HS yếu, kém và “ngồi nhầm lớp” đang là nhiệm vụ trọng tâm mà gánh nặng trách nhiệm được trao cho các thầy cô giáo, các nhà quản lý GD. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về chất và lượng là mục tiêu phấn đấu trong nhiều năm qua và hiện nay vẫn được xem là vấn đề phải nỗ lực thực hiện. Trong tay chúng ta có Thông tư 35/2006/TTLB-BGDĐT-BNV, có Đề án (đã được duyệt) về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2005-2010”..., nhưng từ chủ trương đúng đến việc thực hiện và kết quả đạt được trên thực tế là một lộ trình dài mà không phải lúc nào cũng chỉ có những điểm tương đồng. Chuyên đề “Giáo viên trước yêu cầu đổi mới” đề cập đến thực trạng giáo viên hiện nay, những cơ hội và khả năng tiếp nhận cơ hội của các địa phương trên cả nước và những vấn đề cần tiếp tục thực hiện...
*****
Thực hiện Thông tư 35/2006/TTLB-BGDĐT-BNV: Liệu có đi chệch mục đích
Với quy định cũ tại Thông tư 48 ban hành từ năm 1979, định mức biên chế ở các bậc học chỉ được giới hạn là 1,15 GV/lớp đối với trường tiểu học, 1,85 GV/lớp với trường THCS và 2,1 GV/lớp với trường THPT. Trong suốt một thời gian dài, các đơn vị GD đã gặp khó khăn về định biên mà không thể tuyển được những GV trẻ, có trình độ, bù đắp sự thiếu hụt của từng môn học khác nhau. Nhiều địa phương hiện nay vẫn loay hoay với tình trạng thiếu GV. Có bậc học thừa về tổng số GV hoặc thừa GV một số môn học, nhưng lại thiếu GV những môn học khác. GV chuyên biệt ở bậc tiểu học, nhân viên chuyên quản lý thiết bị thực hành thí nghiệm...là đối tượng thiếu trầm trọng. Tình trạng thiếu GV không chỉ xảy ra ở các vùng khó khăn, mà cả ở các thành phố lớn. Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLB-BGDĐT-BNV ra đời năm 2006 hướng dẫn về định mức biên chế viên chức đã mở cho các địa phương một hướng để tháo gỡ khó khăn. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện Thông tư lại tùy thuộc vào các địa phương, kinh phí thực hiện lấy từ ngân sách của địa phương nên đã hơn 1 năm ban hành, có địa phương vẫn không thực hiện được, hoặc thực hiện mỗi nơi một cách...
Việc triển khai lệ thuộc vào mỗi địa phương
Đề cập đến vấn đề GV, ông Thái Văn Đồng, Giám đốc Sở GD&ĐT Quảng Ngãi cho biết: Khi Thông tư 35 ban hành, chúng tôi cũng đã trình UBND tỉnh và các cơ quan chức năng. Nhưng việc này chưa được triển khai do tỉnh không bố trí được ngân sách. Theo ông Đồng thì đứng ở góc độ số lượng thì hiện Quảng Ngãi tương đối đủ GV, nhưng xét ở ở từng môn học và yêu cầu mới của các bậc học thì thiếu. Ví dụ như thiếu GV dạy các môn chuyên biệt, GV để tổ chức dạy 2 buổi/ngày và bồi dưỡng cho HS yếu, kém, GV cho chương trình phân ban ở THPT, cán bộ chuyên trách về thiết bị, thí nghiệm...
Không riêng Quảng Ngãi, nhiều địa phương khác cũng đang đặt Thông tư 35 sang “bên lề” khi hoạch định nhiệm vụ cho năm học mới. Nguyên do chính đáng không thể chê trách là “không có ngân sách”. Quan điểm của lãnh đạo một số địa phương là GV không quá thiếu (về số lượng) có thể sử dụng các giải pháp linh hoạt khác như bố trí GV ghép môn, sử dụng GV hợp đồng tạm thời theo kinh phí của huyện, tỉnh để chờ có định biên thì tuyển... Một số nơi không triển khai học 2 buổi/ngày (đối với tiểu học và THCS) vì không đủ GV. Các trường THPT thiếu GV cũng phải chọn giải pháp tình thế là tư vấn cho HS trong việc đăng ký môn học tự chọn sao cho phù hợp với điều kiện GV của trường. Các trường không có người phụ trách thiết bị, thí nghiệm, làm công tác thư viện, đoàn đội cũng tính giải pháp kiêm nhiệm.
Quảng Bình là một trong những địa phương đã triển khai thông tư 35, nhưng thực chất không phải là việc “nới định biên” mà thay vào việc tuyển thêm người, chỉ rót kinh phí cho các trường ở mức thấp nhất để trả cho GV làm thêm giờ (dạy buổi 2, làm kiêm nhiệm). Ông Phạm Trương, Trưởng phòng tiểu học, Sở GD&ĐT Quảng Bình cho biết: Theo tinh thần thông tư 35, biên chế GV trường tiểu học dạy 2 buổi/ngày không quá 1,50 GV/lớp nhưng, thực tế Quảng Bình vẫn áp dụng định biên vẫn là 1,2, còn 0,3 GV thì tỉnh chỉ cấp tiền trả cho GV dạy buổi 2.
Bậc THCS và THPT, có thể nói Quảng Bình không thiếu về số lượng, định biên được giao về các trường đúng theo mức mới quy định trong thông tư 35. Nhưng thực chất ở nhiều trường vẫn thiếu GV một số môn học, thiếu người phụ trách thiết bị, thí nghiệm. “Nhận thêm GV các môn đang thiếu, quá tốt, nhưng như thế tổng số GV lại bị thừa. Những nơi thừa GV cục bộ sẽ phải giải quyết như thế nào?”- Đó vấn đề khiến các cấp lãnh đạo cũng như cán bộ quản lý GD ở nhiều địa phương ở Quảng Bình băn khoăn.
Tuy nhiên giải pháp thực hiện thông tư 35 bằng cách cấp kinh phí cho GV dạy thêm giờ ở Quảng Bình không phải giải pháp hay, khi mục tiêu của thông tư đang có phần bị chệch mục tiêu.
Người cần vẫn thiếu và những bất cập về nguồn tuyển, quy trình tuyển
Việc không thực hiện hoặc triển khai không đúng tinh thần Thông tư, khó thực hiện do thiếu nguồn tuyển, quy trình tuyển bất hợp lý đã dẫn đến một kết quả “người cần vẫn thiếu”.
Ông Phạm Trương cho biết: Nguồn tuyển thì có nhưng Quảng Bình vẫn thiếu GV chuyên biệt do không có cơ chế tuyển người, chỉ cấp tiền. Chỉ còn cách chờ có người nghỉ hưu, trống “chỗ” mới tuyển được. Hiện tuổi trung bình của GV tiểu học ở Quảng Bình là 40- 45, khó trẻ hóa ngay được. Nhiều người muốn về hưu sớm, hoặc không đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới, nhưng không có cơ chế để giải quyết. Ông Trần Tấn Phương, Trưởng phòng GD huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình phát biểu: Chúng tôi đang thiếu trầm trọng GV Nhạc, Họa, Thể dục, Tiếng Anh. Nhưng với chủ trương chỉ tăng quỹ lương không tuyển thêm người nên đành bó tay. Ông Phan Sắc Long, Trưởng phòng GD huyện Bố Trạch, Quảng Bình cũng có chung mối lo: Thiếu GV chuyên biệt. Việc thực hiện Thông tư 35 chỉ giải quyết một phần khó khăn về kinh phí cho GV dạy buổi 2 nhưng không giải quyết được việc thiếu GV cụ thể của một số môn học. Nói một cách khác, muốn có đủ GV, hiệu trưởng sẽ phải tự xoay xở (nhận GV hợp đồng, phân công GV dạy thêm ghép môn, thêm giờ). Bậc THPT sự không thông đồng bén giọt của việc thực hiện Thông tư 35 cũng ảnh hưởng đến vấn đề thực hiện phân ban. Ông Trần Xuân Bình, Hiệu trưởng trường quốc học Quy Nhơn cho biết: Tổ chức dạy học môn tự chọn, thực chất chỉ là “tự chọn có áp đặt”, vì nếu chia nhỏ lớp, đáp ứng nhu cầu học tự chọn của HS thì sẽ không có đủ GV.
|
Điểm mới trong hướng dẫn định mức biên chế trường học các cấp (Theo Thông tư 35/2006/ TTLBBGDĐT- BNV)
- Trường Tiểu học dạy 1 buổi/ngày được bố trí không quá 1,20 GV/lớp. Trường Tiểu học dạy 2 buổi/ngày bố trí không quá 1,50 GV/lớp. Mỗi trường được bố trí 1 GV làm Tổng phụ trách Đội thiếu niên tiền phong HCM, 1 biên chế làm công tác thư viện, thiết bị...
- Trường THCS được bố trí không quá 1,90 GV/lớp, 1 GV làm Tổng phụ trách Đội thiếu niên tiền phong HCM, 1 biên chế làm công tác thư viện, 1 biên chế làm công tác thiết bị, thí nghiệm...
- Trường THPT được bố trí không quá 2,25 GV, 1 biên chế làm công tác thư viện, 1 biên chế làm công tác thiết bị, thí nghiệm...
|
Quy trình tuyển GV của Quảng Bình cũng có nhiều bất cập khiến cho một số địa phương có chỉ tiêu biên chế nhưng không tuyển được người. Thủ tục phức tạp, khiến cho việc xét tuyển kéo dài. Các trường được tự chủ xét tuyển người, nhưng cũng vì thế, theo phản ánh của nhiều trường thì tỷ lệ “hồ sơ ảo” rất nhiều. Có trường tổ chức vài đợt tuyển mới chỉ nhận được 1-2 người, còn lại là vài chục bộ hồ sơ “ảo”. HN thực hiện tuyển GV theo vùng tuyển khác nhau. Điều này nảy sinh bất cập có nơi thiếu GV nhưng không có nguồn tuyển, có nơi dư nguồn tuyển, nhưng GV không muốn “chuyển vùng”.
Việc tuyển nhân viên chuyên trách về thiết bị, thí nghiệm gặp khó khăn ở hầu hết các địa phương đang triển khai Thông tư 35. Nguyên do chủ yếu là không có nguồn tuyển. Các trường sư phạm đã không kịp triển khai việc “đi tắt, đón đầu” nên việc đào tạo người đảm nhiệm công tác thiết bị, thí nghiệm chỉ mới được bắt đầu ở một vài trường. Tại HN, theo ông Mai Văn Tố, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Sở GD&ĐT HN thì HN phải chọn giải pháp tuyển GV có bằng sư phạm để làm nhân viên thiết bị, thí nghiệm, nhưng hưởng lương GV. Một số địa phương khác vẫn tuyển GV Toán, Lý hoặc Sinh, Hóa kiêm làm công tác thiết bị, thí nghiệm.
Nỗi lo nợ tiền dạy thêm giờ
Theo Thông tư mới, GV tiểu học dạy tối đa 23 tiết/tuần, GV THCS dạy tối đa 19 tiết/tuần, GV THPT dạy tối đa 17 tiết/ tuần. Nhưng khi chưa bù đắp được số GV theo định biên mới và theo yêu cầu của chương trình, môn học cụ thể, nhiều trường đã phải yêu cầu GV dạy tăng số tiết/tuần. Và như vậy, tiền dạy thêm giờ cho GV sẽ tăng vọt. Ông Trần Xuân Bình, Trường THPT Quốc học Quy Nhơn cho biết: Việc điều chỉnh số tiết dạy của GV xuống 17 tiết/tuần, trong khi GV không tuyển đủ đã làm nhà trường phải nợ tiền dạy trội giờ của GV hàng trăm triệu đồng. Cũng ở Bình Định, ông Hiệu trưởng trường THPT Phù Mỹ cũng bức xúc: Trường đã phải trả 500- 600 triệu đồng tiền dạy trội giờ cho GV. Ông Nguyễn Minh Đức, Phó hiệu trưởng trường THPT Phan Bội Châu, Tuyên Hóa, Quảng Bình phát biểu: Mặc dù tổng số GV đạt tỷ lệ 2,25/lớp, nhưng thực tế chúng tôi vẫn đang thiếu GV Lý, Anh, Văn và Tin học. GV nhìn chung vẫn phải dạy vượt giờ quy định, có GV dạy đến 22 tiết/tuần. Theo ông Nguyễn Thái Quảng, Phó hiệu trưởng trường THPT Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi thì GV của trường này cũng phải dạy từ 23- 25 tiết/tuần.
Dạy vượt giờ không chỉ làm cho “nợ” của trường với GV tăng lên mà còn ảnh hưởng đến chất lượng GD, khi GV chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của chương trình. Một số cán bộ quản lý GD đã bức xúc khi Thông tư 35 đang đi chệch hướng hoặc bị lãng quên ở một số địa phương.
Rõ ràng một chủ trương đúng, một hướng dẫn hợp lý cần có sự chỉ đạo thống nhất, cụ thể. Việc giao hoàn toàn cho địa phương để mạnh ai, nấy làm sẽ không chỉ không mang lại hiệu quả mà đôi khi còn khiến các đơn vị GD phải gánh lấy những hậu quả không đáng có.
Chu
Hồng Vân - Tuyết Mai
Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Biên chế (Bộ Nội vụ) Nguyễn Đức Chiến: Sẽ thanh tra khâu thực hiện ở các địa phương
Thông tư liên tịch số 35 của Bộ Nội vụ - Bộ GD&ĐT ban hành đến nay đã được hơn 1 năm. Tuy nhiên, hiện vẫn còn có những địa phương chưa triển khai thực hiện đầy đủ theo các qui định của văn bản này. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Đức Chiến, Vụ trưởng Vụ Tổ chức – Biên chế (Bộ Nội vụ) cho biết: Thông tư liên tịch số 35 được liên bộ chuẩn bị rất kĩ trước khi ban hành. Trên cơ sở Nghị quyết 40 của Quốc hội về đổi mới giáo dục phổ thông, đã có hẳn đề tài nghiên cứu tổng thể về định mức biên chế cũng như chế độ làm việc của giáo viên phổ thông. Tất nhiên, để thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội thì cần nhiều giải pháp mang tính chất đồng bộ, nhưng một trong những yếu tố quan trọng là sắp xếp đội ngũ và đáp ứng đủ điều kiện về con người làm công tác giảng dạy cũng như phục vụ giảng dạy.
Thưa ông, Thông tư 35 đã giải quyết được những vấn đề căn bản gì cho GD phổ thông?
Trước đây, chúng ta đã có thông tư 48 và 49 ban hành từ năm 1979 đã đề cập đến định mức biên chế cũng như chế độ công tác đối với GV trong nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, những văn bản này kể từ khi ra đời đến nay đã gần 30 năm. Tình hình GD bây giờ đã thay đổi so với trước, nhất là có sự thay đổi về nội dung, chương trình, phương pháp cũng như điều kiện giảng dạy. Do đó, việc cho ra đời văn bản mới thay thế các qui định cũ là cần thiết. Có thể nói, Thông tư 35 đã đề cập khá đầy đủ và toàn diện vấn đề đội ngũ trong trường phổ thông, từ giáo viên đứng lớp, đến cán bộ quản lý, cán bộ đoàn, đội, nhân viên phụ trách thí nghiệm, thiết bị, thư viện, y tế trường học và hành chính, văn thư... Cụ thể hơn, thông tư đã đưa ra định mức biên chế theo hình thức lớp học cho từng cấp, kể cả định mức cho những nơi tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Ngoài ra, văn bản này còn tính cả đến đặc thù của ngành GD có tỷ lệ nữ cao nên có cả qui định về thai sản.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy đến nay nhiều nơi vẫn chưa thực hiện triệt để theo các qui định của thông tư này?
Thông tư 35 được ban hành bởi Bộ Nội vụ và Bộ GD&ĐT, nhưng có sự nhất trí cao của 2 bộ liên quan là Kế hoạch – Đầu tư và Tài chính. Trong thông tư đã nói rõ, việc thực hiện được phân cấp về cho địa phương, trong đó 3 sở gồm GD&ĐT, Nội vụ, Tài chính có trách nhiệm lập kế hoạch để UBND trình hội đồng nhân dân tỉnh quyết định. Việc lập kế hoạch như thế nào thì cũng có hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 89.
Xin được nói thêm rằng, ngân sách chi cho GD hàng năm đều tăng, đến nay đạt mức 20% ngân sách. Ngân sách của GD được cấp theo đầu học sinh (chứ không theo dân số như trước đây). Ngoài ra, ngay cả trường hợp tính theo định mức mà không đủ thì vẫn được cấp bù. Do đó, lý do thiếu kinh phí để triển khai theo qui định của thông tư mới là không đúng.
Xét về tuyển dụng biên chế, theo qui định hiện nay thì việc tuyển dụng cũng phân cấp hoàn toàn cho địa phương. Các bộ ở trung ương chỉ giữ vai trò hoạch định chính sách và hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện. Vì vậy, nếu như nơi nào nói không có biên chế là do chính địa phương không tổ chức tuyển dụng.
Nếu theo các qui định hiện hành, vai trò của nhà trường như thế nào trong việc tham gia vào xây dựng đội ngũ nhà giáo?
Theo qui định mới hiện nay thì vai trò của nhà trường mà hiệu trưởng đại diện, là rất quan trọng. Nhà trường chính là nơi rà soát lại đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của mình để đưa ra cơ cấu đội ngũ trong trường cho hợp lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Trên cơ sở đề nghị của trường, cơ quan quản lý tuyển dụng để bổ sung đúng theo đối tượng các trường đưa ra chứ không phải bắt ép nhà trường phải nhận giáo viên dạy bất kì môn nào. Việc giao chủ động cho trường, sẽ tiến tới giải quyết tình trạng dạy chéo môn trong trường phổ thông.
Qua thực tế tìm hiểu một số cơ sở giáo dục, nhất là vùng sâu, xa, có một tình trạng phổ biến là cơ quan quản lý kí kết hợp đồng lao động với giáo viên, thậm chí chỉ là hình thức lao động ngắn hạn 9 tháng (một năm học) mà không hề có bảo hiểm cũng như chế độ gì, ngoài khoản lương thỏa thuận tương đương mức lương tối thiểu. Theo ông điều này có sai không?
Việc các đơn vị sự nghiệp công lập kí hợp đồng lao động với các chức danh chuyên môn là sai. Hiện nay, các văn bản khá đầy đủ. Vấn đề là các địa phương có chịu thực hiện theo qui định hay không. Ví dụ như giáo viên trong các trường phổ thông, định mức biên chế đã có, tài chính đã được giao quyền tự chủ. Nếu thiếu giáo viên mà không tiến hành tuyển dụng viên chức lại đi kí hợp đồng lao động, nhất là hợp đồng lao động ngắn hạn, là sai qui định.
Phải chăng các địa phương biết là sai nhưng do không bị cơ quan quản lý cấp trên phát hiện và xử lý nên họ cứ làm?
Theo kế hoạch, sang năm 2008, Bộ Nội vụ sẽ có các đoàn công tác đến các địa phương để kiểm tra tình hình thực hiện các qui định về vấn đề này. Nếu phát hiện ra nơi nào, cơ quan, đơn vị nào làm sai thì sẽ đề nghị địa phương phải điều chỉnh, thậm chí kiến nghị xử lý những cá nhân làm trái.
Liệu có thể qui trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân trong vấn đề này?
Thông tư 35 đã qui định rất rõ ràng. Trong từng trường hợp cụ thể, nếu phát hiện khâu nào làm sai thì đương nhiên sẽ qui trách nhiệm được. Thông tư cũng nói rõ, trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc gì thì sẽ phản ánh về bộ để tìm cách giải quyết, nhưng cho đến nay, không thấy địa phương nào phản ánh là gặp vướng mắc khi thi hành thông tư này. Do đó, nếu như có ở chỗ này, chỗ khác chưa làm đúng là do khâu tổ chức thực hiện chứ không phải vướng bởi qui định trong thông tư.
Có ý kiến nói rằng, tại sao lại không có qui định về biên chế cho cấp mầm non?
Mầm non là một cấp học và cấp học này có những đặc thù riêng của nó, nhất là việc xã hội hóa ở mầm non rất cao. Vì vậy, cần có văn bản điều chỉnh riêng. Thực tế thì đã có qui định về biên chế cho cấp mầm non công lập và hiện nay, liên bộ đang tiến hành soạn thảo văn bản sửa đổi qui định hiện hành.
Xin hỏi ông câu cuối: Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 132 về việc tiếp tục thực hiện giảm biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập. Phải chăng đây là cơ hội để ngành GD tiến hành chuẩn hóa đội ngũ?
Tôi cho rằng đây là một cơ hội tốt cho ngành GD thực hiện đổi mới. Kế hoạch đặt ra sẽ thực hiện tinh giản biên chế đến năm 2011. Theo báo cáo của ngành GD thì hiện có khoảng 25.000 GV thuộc diện giảm biên chế. Nhà nước hiện đã bố trí khoản ngân sách riêng để thực hiện giảm biên chế trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, trong đó có GD.
Xin cảm ơn ông!
Phí Quốc Thuyên
(Thực hiện)
Những giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ
Thực hiện Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương và Quyết định số 09 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010" Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục đã được thành lập vào tháng 3 .2007.
Năm học vừa qua, toàn ngành có trên 1 triệu GV, tăng 12.515 cán bộ, GV và đã giải quyết một phần tình trạng thiếu giáo viên hiện nay.
Bộ GD-ĐT đã banh hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học vào ngày 4.5.2007 và bắt đầu triển khai việc đánh giá, xếp loại chuyên môn, nghiệp vụ đối với giáo viên tiểu học. Bộ GD-ĐT đang triển khai dự thảo chuẩn nghề nghiệp GV mầm non, GV THCS, THPT. Bộ đã chỉ đạo các địa phương điều tra đánh giá sắp xếp đội ngũ, thực hiện chính sách nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Hầu hết các địa phương đã xây dựng đề án "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD" trình UBND tỉnh, thành phố phê duyệt. Một số địa phương như Nghệ An, Quảng Trị, Cà Mau, An Giang, Hải Dương đã triển khai tốt công tác này.
Bộ GD-ĐT đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý GD công tác ở các vùng chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Ban hành quyết định về quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên; ban hành quyết định về chế độ công tác giáo viên giảng dạy trung cấp chuyên nghiệp.... Các địa phương đã căn cứ vào các văn bản hướng dẫn của Bộ, tích cực tham mưu với UBND tỉnh, thành phố về phát triển đội ngũ nhằm giải quyết tình trạng mất cân đối và không đồng bộ về biên chế GV, xây dựng quy hoạch về đội ngũ GV và CBQL của địa phương, đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm bồi dưỡng và phát triện đội ngũ đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo.
Công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên được chú trọng, đặc biệt bồi dưỡng nghiệp vụ chuẩn bị cho việc thay SGK mới, chú ý việc bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức để đáp ứng được đổi mới chương trình GD phổ thông. Đối với các địa phương vùng khó, Bộ đã chỉ đạo tăng cường bồi dưỡng cho GV, cử các đoàn công tác để hỗ trợ bồi dưỡng về nội dung và phương pháp dạy học thực hiện chương trình và SGK mới.
Tuy nhiên, cũng theo nhận định của Bộ GD-ĐT, những khó khăn, yếu kém tồn tại của đội ngũ GV về cơ cấu, phân bố, năng lực chuyên môn vẫn còn chậm được khắc phục. Một bộ phận GV chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD.
Một số ý kiến của các nhà quản lý GD
Ông Mai Đình Tố, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Sở GD&ĐT Hà Nội:
Trước đây, HN chỉ giao tổng số chỉ tiêu. Tính về số lượng chung thì HN đang thừa GV. Nhưng thực tế, những năm gần đây vẫn thiếu GV ở một số môn học, thiếu GV ở một số địa bàn và thiếu nhân viên chuyên trách về thiết bị, thí nghiệm theo hướng dẫn của Thông tư 35/2006/TTLB-BGDĐT-BNV. Bên cạnh đó, tình hình HS cũng có những biến động giữa các trường, các quận, huyện nên có thể gây thừa, thiếu nhất thời. Ví dụ, hiện nay HN đang thừa GV Toán, Văn, khu vực nội thành thừa GV Ngoại ngữ bậc THCS, nhưng GV Hóa, Sinh có khả năng thiếu nhiều vì đang có một loạt GV các môn này về nghỉ chế độ. Chính vì thực trạng này nên HN cần phải tính toán giao chỉ tiêu căn cứ vào cơ cấu GV. Nói cách khác là quản lý GV theo đầu công việc chứ không phải giao tổng số chỉ tiêu như trước đây. Nếu thay đổi theo cách này có thể giải quyết được việc thiếu cục bộ GV, đáp ứng kịp thời GV cần cho các môn học, cấp học, địa bàn cụ thể. Tuy nhiên, để việc giao chỉ tiêu được sát với thực tiễn, phải xây dựng được kế hoạch về nhân sự trong khoảng thời gian 3 năm, lường trước được những thay đổi trong mạng lưới phát triển trường học, yêu cầu GD từng thời điểm nhất định....
Bà Phan Thị Thu Hà, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Đồng Tháp:
Đã đến lúc cần phải xem lại chuẩn trình độ của GV và cán bộ quản lý. Hiện nay ở nhiều tỉnh, thành phố có đến 80- 90% GV đạt chuẩn về trình độ đào tạo theo quy định. Nhưng vấn đề đặt ra không chỉ cần chuẩn về trình độ đào tạo (bằng cấp) mà phải “chuẩn” về năng lực chuyên môn và năng lực quản lý. Thực tế, ở nhiều địa phương, giữa chuẩn về trình độ đào tạo và năng lực thực sự có độ chênh lệch khá lớn. Vì thế, mục tiêu xây dựng đội ngũ GV và đội ngũ quản lý GD giai đoạn hiện nay, không chỉ cần quan tâm số lượng mà phải chú trọng hơn đến chất lượng. Và một vấn đề mới cần đặt ra để phấn đấu là xây dựng chuẩn năng lực chuyên môn, quản lý của đội ngũ GV, đội ngũ cán bộ quản lý GD các cấp học.
Ông Phạm Trương, Trưởng phòng GD tiểu học, Sở GD&ĐT Quảng Bình:
Chủ trương của tỉnh là tăng tỷ lệ HS được học 2 buổi/ngày nhằm nâng cao chất lượng GD. Hiện nay tỷ lệ này là 70%, phấn đấu đến năm 2010 là 100%. Thông tư 35 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường đội ngũ GV để đáp ứng chủ trương dạy 2 buổi/ngày. Nhưng Quảng Bình thực hiện Thông tư theo cách tăng quỹ lương (tương ứng với 0,3GV/lớp) chứ không tuyển người để đủ định biên 1,50 GV/lớp. Thời gian trước, do một số huyện khó khăn không tổ chức được dạy học 2 buổi/ngày ở bậc tiểu học do không thu được tiền của HS, không có nguồn thu để trang trải. Ngành GD&ĐT đã tham mưu cho UBND tỉnh và các cơ quan chức năng để cấp kinh phí trả thù lao cho GV dạy buổi 2 ở các địa phương này nhằm giải quyết vấn đề HS yếu, kém, nâng chất lượng GD đại trà. Số tiền chi cho GV dạy 2 buổi/ngày hiện vẫn còn tồn đọng, chưa biết phải phân chia thế nào cho hợp lý thì lại tiếp tục áp dụng chi kinh phí của 0,3GV/lớp,
Ông Võ Vĩnh Hào, Trưởng phòng GD huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình:
Thực hiện Thông tư 35/2006/BGDĐT- BNV theo hướng cho tuyển thêm người đúng với định biên mới thì tốt nhất. Vì như thế sẽ giúp các địa phương giải quyết được tình trạng thiếu GV cục bộ ở một số môn học, cấp học. Ví dụ hiện nay, một số địa phương vẫn đang phải sử dụng GV chuyên biệt ở bậc tiểu học và GV một vài môn học khác ở bậc THCS theo diện hợp đồng, do không có cơ chế tuyển thêm người, chỉ cấp ngân sách. Tuy nhiên, việc tuyển thêm người (theo Thông tư) cũng không thể làm ồ ạt, vội vàng vì nếu không tính toán kỹ cho cả một giai đoạn trước mắt thì rất có thể hôm nay tuyển thêm người, ngày mai sẽ xảy ra tình trạng thừa GV không biết bố trí vào công việc nào.
Ông Nguyễn Minh Sơn, Trưởng phòng GD huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi:
Trước đây, Bình Sơn là huyện có nhiều HS trong diện có nguy cơ bỏ học. Có những xã có đến hàng trăm HS trong độ tuổi 15- 18 tuổi nhưng không tiếp tục đi học. Tình trạng HS yếu kém vẫn ở mức cao. Chủ trương của ngành GD&ĐT là phải khắc phục tình trạng HS yếu kém bằng cách dạy phụ đạo, tăng cường tổ chức dạy 2 buổi/ngày, nhất là đối với HS tiểu học. Nhưng để làm tốt việc này, phải tăng cường đội ngũ GV cả về số lượng và chất lượng. Việc chậm triển khai Thông tư 35 của Quảng Ngãi ít nhiều khiến các trường không có cơ hội tăng thêm nhân lực phục vụ cho yêu cầu GD trước mắt. Tuy nhiên, đây là vấn đề cũng không đơn giản vì liên quan đến ngân sách địa phương, vì nếu thực hiện đúng theo Thông tư, quỹ lương sẽ tăng lên nhiều.
Thực hiện chương trình- sách giáo khoa phổ thông mới: Đội ngũ giáo viên thiếu và không đồng bộ
Một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả của việc đổi mới chương trình- sách giáo khoa ở bậc phổ thông là đội ngũ giáo viên. Chính vì vậy, đi cùng với những thay đổi về nội dung, chương trình SGK, Bộ GD-ĐT phối hợp với Bộ Nội vụ đã có nhiều quyết sách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, đảm bảo có đủ giáo viên dạy các môn chuyên biệt cũng như tiến tới nâng dần tỷ lệ HS được học 2 buổi/ngày, nhất là ở vùng khó khăn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, gắn liền với điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau thì ở mỗi vùng miền vấn đề đội ngũ vẫn không đồng đều về số lượng và chất lượng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của việc thay sách.
Miền núi thiếu giáo viên trầm trọng
Thực trạng thiếu GV trầm trọng nhất là ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Ông Nguyễn Hữu Diễn - Cục trưởng Cục Nhà giáo Bộ GD-ĐT cho biết: 15 tỉnh miền núi phía Bắc chưa tỉnh nào đạt định mức theo Thông tư 35, thậm chí hầu hết đều không đạt định mức cũ. Trong đó, ở bậc THPT Cao Bằng là tỉnh có tỷ lệ GV/lớp thấp nhất cả nước với 1,37 GV/lớp, Tuyên Quang là 1,6... Lãnh đạo Bộ GD-ĐT từng cho rằng: "Tôi rất ngạc nhiên khi nhìn vào tỷ lệ GV/lớp của một số tỉnh này. Với tỷ lệ như của Cao Bằng thì không thể quay vòng được GV. Được biết, tỉnh này hiện đang dạy - học 2 ca, nhưng như thế sẽ không có thời gian họp tổ, họp nhóm, không có thời gian bồi dưỡng GV thường xuyên. Điều này rất đáng lo ngại..."
Đội ngũ GV thiếu cộng với trình độ chuyên môn không đồng đều đang là mối lo ngại rất lớn của các địa phương có hoàn cảnh khó khăn trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học và cách kiểm tra, đánh giá. Nhận định về vấn đề này, nguyên Thứ trưởng Nguyễn Văn Vọng cho rằng: Đổi mới phương pháp dạy học đối các tỉnh miền núi phía Bắc là vấn đề lớn nhất vì thực trạng đội ngũ ở đây còn nhiều hạn chế. Thực tế cũng cho thấy việc đổi mới ở các địa phương này chậm hơn rất nhiều so với toàn quốc.
Tình trạng phải mời nhiều GV hợp đồng, thỉnh giảng và thiếu GV ở một số môn học trên đã dẫn đến khó khăn trong việc sắp xếp thời khoá biểu, tổ chức dạy học tự chọn, một số GV phải dạy quá nhiều tiết, không còn thời gian đầu tư nhiều cho việc chuẩn bị bài giảng.
Ông Nguyễn Hữu Diễn: Việc thiếu GV đang là bài toán nan giải. Nhiều địa phương kêu thiếu nhưng vẫn không có kế hoạch đào tạo số giáo viên thiếu mà vẫn tiếp tục cho "ra lò" hàng loạt GV của những bộ môn đang thừa GV.
Ngày 23/8/2006 Thông tư liên tịch số 35 chính thức ra đời quy định số giờ chuẩn trực tiếp lên lớp của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, chủ nhiệm lớp và từ đó để làm cơ sở cho việc tính định mức biên chế GV/lớp. Theo đó, thay vì mỗi GV dạy tối đa là 18 tiết/tuần như trước đây thì nay sẽ dạy 17 tiết/tuần. Cũng theo Thông tư này, trường hạng I được bố trí 2 biên chế, trường hạng 2,3 được bố trí 1 biên chế nhân viên làm công tác thiết bị trong trường THPT.
Tuy nhiên, do cuối tháng 8.2006 mới ban hành Thông tư này nên hầu hết các trường THPT đều không tuyển kịp GV cho năm học đầu tiên thay sách.
Giải pháp được Bộ GD-ĐT đưa ra là: GV không thể và không nên dạy tất cả những gì có trong SGK một cách máy móc mà phải tuỳ vào thực tế đối tượng HS của mình mà xác định trọng tâm, trọng điểm của từng giờ dạy. Về khâu đánh giá, ở những khu vực đặc biệt khó khăn, cần thay đổi việc đánh giá khả năng ghi nhớ và thuộc lòng của HS bằng sự hiểu biết rồi dần dần mới tính đến sự sáng tạo của HS.
Ông Diễn cũng cho rằng: Nguồn tuyển không có thì phải hợp đồng với GV đến tuổi nghỉ hưu (còn đủ sức khoẻ và năng lực) để họ ở lại giảng dạy, bên cạnh đó tiếp tục bố trí GV dạy thêm giờ.
Đối với những môn không có khả năng đào tạo thì phải mời GV thỉnh giảng và có kế hoạch đặt hàng mở mã ngành đào tạo tại các trường sư phạm...
Mỗi trường phải trả hàng trăm triệu đồng cho giáo viên dạy thêm giờ
Bà Lê Thị Kim Xinh- Hiệu phó trường THPT số 1 Đức Phổ cho biết, kết thúc một năm học đầu tiên thực hiện phân ban, đội ngũ GV dạy chương trình- SGK lớp 10 của toàn trường không có một ai khẳng định định hoàn thành chương trình một cách nhẹ nhàng.
|
Kết quả khảo sát của Viện Chiến lược và Chương trình GD- Bộ GD-ĐT về số lượng GV của 158 trường trên 12 tỉnh cho thấy: So với 10990 GV cần có thì hiện nay, tỉ lệ GV còn thiếu là 4,13%; tỉ lệ GV hợp đồng, thỉnh giảng là 11,46%; tỉ lệ trường chưa có cán bộ phụ tá thí nghiệm, thực hành là 54,43% và chưa có cán bộ thư viện là 13,29%.
Năm học 2006-2007, thực hiện Nghị định 121/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ, các trường THPT được phân cấp tự tổ chức tuyển dụng viên chức cho trường mình theo chỉ tiêu biên chế được giao. Việc tuyển dụng viên chức trong các trường THPT công lập được thực hiện thông qua hình thức thi hoặc xét tuyển. Việc lựa chọn và quyết định hình thức tuyển dụng là do Hội đồng tuyển dụng của trường quyết định. Mặc dù vậy, năm học vừa qua, cả nước cũng chỉ có một số tỉnh, thành phố thực hiện được Nghị định này (Quảng Ngãi và Bình Thuận).
|
Đây cũng là nhận định của giáo viên cũng như lãnh đạo nhiều trường THPT ở các địa phương. Bên cạnh đó thời lượng eo hẹp cũng là vấn đề khiến các trường phải rất vất vả. Ông Nguyễn Tân Cảnh- Hiệu trưởng trường THPT Chuyên Lê Khiết- Quảng Ngãi cho rằng: Chương trình chính khoá của khối 10 đã là 35 tiết/tuần. Hầu hết GV của các môn đều phải dạy quá giờ quy định. Do vậy nếu chỉ cần 1 GV nghỉ thì việc dạy bù và dạy thay đều rất khó khăn trong việc bố trí.
Ông Nguyễn Thái Quảng- Hiệu phó trường THPT Trần Quốc Tuấn- TP. Quảng Ngãi cũng cùng chung với nhận định này: Do thời lượng hiện nay quá căng nên các hoạt động hướng nghiệp và ngoại khoá phải tổ chức vào ngoài giờ, thậm chí cả vào ngày chủ nhật.
Thêm vào đó, chương trình mới cũng có thêm một số môn học mà chưa trường nào có giáo viên nên lại phải điều động GV kiêm nhiệm. Ví dụ đối với môn Công nghệ và nhân viên thiết bị thí nghiệm, do vậy sức làm việc của giáo viên trong năm đầu đổi mới là khá căng thẳng.
Đó là chưa kể đến không ít trường thiếu GV ở một số bộ môn, ví dụ trường THPT Trần Quốc Tuấn thiếu GV Địa lý nên năm học 2006-2007 mỗi GV phải dạy tới 25 tiết/tuần.
Trường THPT Quốc Học- TP. Quy Nhơn- Bình Định là một trường điểm của thành phố nhưng cũng rơi vào tình trạng thiếu GV khi thực hiện chương trình- SKG mới. Ông Trần Xuân Bình cho biết: Theo Thông tư 35 thì trường tôi sẽ thiếu khoảng 13 GV, nhưng tuyển đủ số GV thiếu này ở một số môn không dễ vì không có nguồn đào tạo, ví dụ như môn Công nghệ. Mỗi trường sẽ phải có ít nhất hai nhân viên chuyên trách về thí nghiệm vì nhân viên phụ trách thiết bị môn Lý không thể kiêm nhiệm cho môn Hoá.
Được biết, hiện nay mỗi năm trường THPT Quốc học phải trả tới hàng trăm triệu tiền dạy quá giờ cho GV.
Cũng tương tự như vậy- trường THPT Số 1 Phù Mỹ- một trường nằm ở huyện miền biển của tỉnh Bình Định cũng đang thiếu GV của các môn: Hoá, Địa, GD công dân, Lịch sử. Hiện trung bình mỗi GV phải dạy thừa giờ 3-4 tiết/tuần. Năm học 2006-2007, một học kỳ, nhà trường phải trả khoảng 500-600 triệu tiền dạy thừa giờ cho GV.
Ngoài ra, theo thống kê của Bộ GD-ĐT, kết thúc năm học 2006-2007 một số môn học, hoạt động GD mới như: Tin học, GD công dân, Hoạt động GD ngoài giờ lên lớp, Công nghệ, đội ngũ GV còn thiếu, các trường phải bố trí dạy kiêm nhiệm, dạy chéo môn. Đội ngũ nhân viên thiết bị thí nghiệm ở các địa phương chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, chủ yếu là cán bộ chuyên trách, nhiều nhân viên thiết bị chưa qua đào tạo chính quy. Số lượng nhân viên thiết bị chưa đáp ứng nhu cầu, một số địa phương số nhân viên thiết bị thí nghiệm chỉ đạt 10%; Cả nước vẫn còn 27% GV tin học chưa đạt trình độ chuẩn. Nhiều địa phương lấy lý do năm đầu tiên chưa kịp duyệt kế hoạch ngân sách nên chưa thực hiện được Thông tư 35.
Chu
Hồng Vân- Tuyết Mai
|